Skip to content

Học thuyết tạng phủ (tạng tượng)

Học thuyết tạng tượng (hay còn gọi là học thuyết tạng phủ) là học thuyết nghiên cứu công năng sinh lý và quá trình biến hóa bệnh lý của tạng phủ - Quy luật hoạt động của các bộ phận trong cơ thể theo nguyên lý của  YHCT.

1. Đại cương về học thuyết tạng tượng (tạng phủ)

Cơ thể con người:

  • Ngũ tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận
  • Lục phủ:  tiểu trường, đại trường, đởm, vị, bàng quang, tam tiêu
  • Phủ kỳ hằng:  não, tuỷ, bào cung
  • Ngũ thể: da, lông, gân, cơ, móng
  • Cửu khiếu: mắt, mũi, tai, miệng, tiền âm, hậu âm
  • Kinh lạc: 12 kinh, 15 lạc, 8 mạch

1.1. Khái niêm trong học thuyết tạng tượng

“Tạng” là các tổ chức cơ quan ở trong cơ thể

“Tượng” là biểu tượng của hình thái, sinh lý, bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài cơ thể. Vì thế quan sát cơ thể sống để nghiên cứu quy luật hoạt động của nội tạng gọi là “tạng tượng”.

1.2. Cơ sở hình thành học thuyết tạng tượng

  • Giải phẫu cổ xưa
  • Biểu hiện HĐ chức năng
  • Tạng: Tạng phủ, cơ quan
  • Tượng: Hiện tượng chức năng

Nghiên cứu sự hoạt động nội tạng của cơ thể là dựa vào sự phát triển của giải phẫu học ở một mức độ nhất định. Giải phẫu học xưa đã có nguồn gốc rất sớm, các sách “tố vấn”, “linh khu” và Hải Thượng Lãn Ông đã ghi chép rất nhiều kiến thức nói về giải phẫu. Nhưng học thuyết “Tạng Tượng” lại không hoàn toàn dựa vào giải phẫu học, nó là một thứ học thuyết theo sự chỉ đạo của quan điểm “Người và hoàn cảnh bên ngoài là một thể thống nhất” mà quan sát cẩn thận và nghiên cứu nhiều lần ở con người sống, đồng thời thông qua chứng nghiệm thực tiễn chữa bệnh lâu dài và dùng học thuyết âm dương ngũ hành để nói rõ thêm.

1.3. Nội dung học thuyết “Tạng tượng”

Đầu tiên chúng ta cần phải có nhận thức về học thuyết “Tạng tượng” dưới đây:

  • Mỗi một tạng, không phải chỉ là thực chất cơ quan trong giải phẫu học, mà chủ yếu bao gồm cơ năng hoạt động sinh lý của tạng đó và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với các tạng khác.
  • Hệ thống hoạt động của tổ chức cơ quan dựa vào mối liên hệ lẫn nhau trong hoạt động sinh lý của các tạng mà phân chia ra.
  • Học thuyết tạng tượng đã phản ánh đầy đủ sự thống nhất trong nội bộ cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài. Tính thống nhất này biểu hiện ở chỗ hoạt động sinh lý, bệnh lý của hệ thống ngũ tạng quan hệ với sự thay đổi của 5 mùa quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ với các tổ chức phần ngoài cơ thể, với hoạt động tư duy của con người.

Nội dung của tạng tượng bao gồm: mọi tổ chức cơ quan và qui luật của chúng: tâm, can, tỳ, phế, thận, đờm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quang, tâm bào, não, tủy, cốt mạch, tử cung, kinh lạc, khí huyết, đinh vệ, tinh khí thần, tân dịch cho đến da, lông, gân, thịt, móng, tóc, tai, mắt miệng, lưỡi, mũi, tiền âm, hậu âm. Trong những tổ chức cơ quan này theo tính chất và công năng của chúng để phân loại, quy nạp, chia thành ngũ tạng (5 tạng), lục phủ, phủ kỳ hằng ngũ quan, cửu khiếu và tinh, khí, thần vv… Nhờ đó số nội tạng được sắp xếp có hệ thống tiện cho việc nhận thức và nắm vững vấn đề.

2. Các tạng, phủ và quan hệ giữa các tạng phủ

2.1. Các tạng:

Tạng có chức năng chung là tàng giữ tinh khí. Có 5 tạng chính và 1 phụ là:

Tâm (phụ là Tâm bào) - Can - Tỳ - Phế - Thận. Quan hệ giữa các Tạng là quan hệ Ngũ hành sinh, khắc.

  • Tương sinh: Can sinh Tâm, Tâm sinh Tỳ, Tỳ sinh Phế, Phế sinh Thận, Thận sinh Can
  • Tương khắc: Can khắc Tỳ, Tỳ khắc Thận, Thận khắc Tâm, Tâm khắc Phế, Phế khắc Can.

2.2. Các phủ:

Chức năng chung của các Phủ là truyền tống, hấp thu, bài tiết (Phủ có nghĩa là nơi trú ngụ) trên đầy thì dưới vơi và dưới vơi thì trên phải đầy, phải luôn thay đổi.

Ví như khi Vị rỗng thì Đại trường và Bàng quang phải đầy, khi ta ăn vào, Vị đầy thì Đại trường và Bàng quang phải tháo rỗng.

Có 6 phủ là: Đởm - Tiểu trường - Đại trường - Vị - Bảng quang và Tam tiêu.

Ngoài ra còn một số Phủ đặc biệt gọi là Phủ kỳ hằng như Não, Tử cung.

2.3. Quan hệ giữa Tạng và Phủ:

Là quan hệ Âm Dương, Biểu Lý. Biểu là ở phía bên ngoài, Lý là ở phía bên trong, Biểu thuộc dương, Lý thuộc âm.

Mỗi Tạng đều quan hệ biểu lý với một Phủ.

  • Tâm biểu lý với Tiểu trường
  • Can biểu lý với Đởm
  • Tỳ biểu lý với Vị
  • Phế biểu lý với Đại trường
  • Thân biểu lý với Bàng quang
  • Tâm bào biểu lý với Tam tiêu.

3. Các thể chất khác:

3.1. Khí - Huyết:

Khí và Huyết quan hệ âm dương. Khí là dương, Huyết là âm. Khí Huyết
Huyết là mẹ của Khí, Khí là thống soái của Huyết. Khí hành, Huyết hành; Khí trệ, Huyết ứ.

3.1.1. Khí:

Khí là động lực cho mọi hoạt động của cơ thể. Mỗi tạng cần một dạng khí riêng goi theo tên tạng đó như Tâm khí, Thân khí, Can khí, Tỳ khí, Phế khí.
Dựa vào nguồn xuất phát của khí ta có:
- Tông khí từ Thượng tiêu (Tâm Phế)
- Trung khí từ Trung tiêu (Tỳ Vị)
- Nguyên khí từ Hạ tiêu (Can Thận).

3.1.2. Huyết:

Huyết là chất dịch màu đỏ được Thận tạo ra từ Tinh, Huyết do Tâm chủ quản, do Tỳ khống nhiếp và được tàng chứa tại Can.

3.2. Tinh - Thần:

Tinh và Thần quan hệ âm dương, Tinh là âm, Thần là dương. Tinh dồi dào đày đủ thì Thần minh mẫn, vững vàng.

3.2.1. Tinh:

Tinh là cơ sở vật chất, Khí và thần đều do Tinh. Tinh, Khí, Thần là yếu tố cơ bản của sự sống. Tinh bao gồm Tinh tiên thiên và Tinh hậu thiên có quan hệ hỗ tương.
· Tinh tiên thiên là bẩm tố từ bô mẹ, là hệ gien trong các nhiễm sắc thể của tế bào sinh dục, tinh trực thuộc Thận, mang tính huyết thống, đặc điểm giống nòi.
· Tinh hậu thiên do Tỳ vận hoá thức ăn. Tinh hậu thiên là nguồn động lực cho các Tạng Phủ.
Muối cải tạo giống nòi cần quan tâm bồi dưỡng, cải tạo cả hai loại tinh: tinh tiên thiên (giống, gieo) và tinh hậu thiên (thức ăn, môi sinh).

3.2.2. Thần:

Thần bao gồm những hoạt động tâm thần, tư duy, ý thức đồng thời chỉ huy, điều hoà chức năng của các tạng phủ. Tinh, Khí đầy đủ thì Thần sáng suốt, vững vàng, có thể coi Thần là biểu hiện của Tâm qua ánh mắt, vẻ mặt và ứng xử.

3.3. Tân - Dịch:

Tân, Dịch là hai loại chất lỏng, thuộc âm, do Thận chủ quan, nguồn gốc từ Tỳ tạo ra.

3.3.1. Tân:

Là chất dịch trong, dịch gian bào.
Tác dụng làm nhu nhuận da thịt.
Ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều sẽ làm Tân khô kiệt (Hội chứng mất nước và điện giải).

3.3.2. Dịch:

Là chất dịch đục thường ở trong bao khớp.
Tác dụng làm trơn nhờn khớp xương.
Sốt cao, ỉa chảy, nôn, ra mồ hôi nhiều là nguyên nhân làm khô cạn Tân dịch. Rối loạn chức năng của Phế, Tỳ, Thận làm ứ đọng Tân dịch gây chứng phù thũng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *