Skip to content

Tìm hiểu các triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh tiểu đường để phòng tránh sớm bệnh tiểu đường hoặc quản lý bệnh tốt hơn.

Các triệu chứng của bệnh tiểu đường là gì?

Các triệu chứng của bệnh tiểu đường bao gồm:

  • Khát nước và đi tiểu nhiều hơn
  • Tăng đói – cảm giác đói mặc dù vừa mới ăn xong
  • Mệt mỏi
  • Mờ mắt
  • Tê hoặc ngứa ran ở bàn chân hoặc bàn tay
  • Vết loét không lành
  • Giảm cân không rõ nguyên nhân

Các triệu chứng của bệnh tiểu đường loại 1 có thể bắt đầu nhanh chóng, chỉ trong vài tuần. Các triệu chứng của bệnh tiểu đường loại 2 thường phát triển chậm - trong một vài năm - và có thể nhẹ đến mức bạn thậm chí còn không cảm nhận thấy chúng. Nhiều người mắc bệnh tiểu đường loại 2 còn không có các triệu chứng. Một số người không phát hiện ra họ có bệnh tiểu đường cho đến khi họ gặp các vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tiểu đường, chẳng hạn như thị lực mờ hoặc đau tim.

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường loại 1?

Tiểu đường loại 1 xảy ra khi hệ thống miễn dịch của bạn (hệ thống của cơ thể chống lại nhiễm trùng) tấn công và phá hủy các tế bào beta sản xuất insulin của tuyến tụy. Các nhà khoa học cho rằng bệnh tiểu đường loại 1 là do các gen và các yếu tố môi trường gây ra, chẳng hạn như virus, có thể gây bệnh. Các nhà nghiên cứu vẫn đang làm việc để xác định nguyên nhân của bệnh tiểu đường loại 1 và những cách có thể để ngăn ngừa hoặc làm chậm bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường loại 2?

Bệnh tiểu đường loại 2 - dạng bệnh tiểu đường phổ biến nhất - được gây ra bởi nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố lối sống và các gen.

Thừa cân, béo phì và không hoạt động thể chất

Bạn có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường loại 2 nếu bạn không vận động cơ thể và thừa cân hoặc béo phì. Tăng cân thông thường sẽ gây kháng insulin và thường gặp ở những người mắc bệnh tiểu đường loại 2. Vị trí của mỡ trên cơ thể cũng tạo nên sự khác nhau trong việc phát triển bệnh tiểu đường. Béo bụng liên quan mật thiết đến kháng insulin, tiểu đường loại 2, và bệnh mạch máu và tim mạch. Để xem trọng lượng của bạn có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 hay không, hãy xem các biểu đồ Chỉ số Body Mass Index (BMI) này.

Kháng insulin

Bệnh tiểu đường loại 2 thường bắt đầu với kháng insulin, một tình trạng mà trong đó các tế bào cơ, gan và mỡ không sử dụng insulin tốt. Kết quả là, cơ thể của bạn cần nhiều insulin hơn để giúp glucose đi vào tế bào. Lúc đầu, tuyến tụy làm cho insulin nhiều hơn để theo kịp với nhu cầu bổ sung. Theo thời gian, tuyến tụy không thể tạo đủ insulin và lượng đường trong máu tăng lên.

Gen và lịch sử gia đình

Như trong bệnh tiểu đường loại 1, một số gen nhất định có thể làm cho bạn dễ mắc bệnh tiểu đường loại 2 hơn. Bệnh có xu hướng di truyền trong gia đình và xảy ra thường xuyên hơn trong các nhóm chủng tộc / dân tộc này:

  • Người Mỹ gốc Phi
  • Alaska Natives
  • Thổ dân châu Mỹ
  • Người Mỹ gốc Á
  • Người gốc Tây Ban Nha / người La tinh
  • Người Hawaii bản địa
  • Dân đảo Thái Bình Dương

Gen cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 bằng cách tăng xu hướng trở nên thừa cân hoặc béo phì của một người.

Nguyên nhân gây tiểu đường thai kỳ?

Các nhà khoa học tin rằng bệnh tiểu đường thai kỳ, một loại bệnh tiểu đường phát triển trong thời kỳ mang thai, là do những thay đổi nội tiết tố trong lúc mang thai cùng với các yếu tố di truyền và lối sống.

Kháng insulin

Hormones do nhau thai sản xuất góp phần làm tăng kháng insulin, xảy ra ở tất cả phụ nữ trong thời gian mang thai muộn. Hầu hết phụ nữ mang thai có thể sản xuất đủ insulin để vượt qua sự đề kháng insulin, nhưng một số phụ nữ thì không thể. Bệnh tiểu đường thai kỳ xảy ra khi tuyến tụy không thể tạo đủ insulin.Như với bệnh tiểu đường loại 2, trọng lượng tăng thêm cũng có liên quan đến bệnh tiểu đường thai kỳ. Những phụ nữ thừa cân hoặc béo phì có thể đã kháng insulin khi họ mang thai. Tăng cân quá nhiều trong khi mang thai cũng có thể là một yếu tố.

Những thay đổi về nội tiết tố, trọng lượng thừa và tiền sử gia đình có thể góp phần vào bệnh tiểu đường thai kỳ.

Gen và lịch sử gia đình

Có tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường làm cho người phụ nữ dễ bị tiểu đường thai kỳ hơn, điều này cho thấy rằng gen đóng vai trò quan trọng. Các gen cũng có thể giải thích tại sao rối loạn xảy ra thường xuyên hơn ở người Mỹ gốc Phi, người Mỹ da đỏ, người châu Á và người gốc Tây Ban Nha / Latin.

Còn nguyên nhân gì khác có thể gây ra bệnh tiểu đường?

Đột biến di truyền, các bệnh khác, tổn thương tuyến tụy, và một số loại thuốc nhất định cũng có thể gây ra bệnh tiểu đường.

Đột biến di truyền

  • Bệnh tiểu đường Monogenic là do đột biến, hoặc thay đổi, trong một đoạn gen duy nhất. Những thay đổi này thường được di truyền trong gia đình, nhưng đôi khi đột biến gen xảy ra một mình. Hầu hết các đột biến gen này gây ra bệnh tiểu đường bằng cách làm cho tuyến tụy ít có khả năng tạo ra insulin. Các loại phổ biến nhất của bệnh tiểu đường Monogenic là tiểu đường sơ sinh và bệnh tiểu đường khởi phát trưởng thành của trẻ (MODY). Tiểu đường sơ sinh xảy ra trong 6 tháng đầu đời. Các bác sĩ thường chẩn đoán MODY khi trưởng thành hoặc trưởng thành sớm, nhưng đôi khi bệnh không được chẩn đoán cho đến sau này trong cuộc sống.
  • Bệnh xơ nang tạo ra chất nhờn dày gây sẹo trong tuyến tụy. Sẹo này có thể ngăn chặn tuyến tụy tạo ra đủ insulin.
  • Bệnh thừa sắt (Hemochromatosis) làm cho cơ thể lưu trữ quá nhiều chất sắt. Nếu bệnh không được điều trị, sắt có thể tích tụ và tổn thương tuyến tụy và các cơ quan khác.

Bệnh nội tiết

  • Một số bệnh nội tiết tố khiến cơ thể tạo ra quá nhiều hormone nhất định, đôi khi gây ra sự kháng insulin và phát sinh tiểu đường.
  • Hội chứng Cushing xảy ra khi cơ thể tạo ra quá nhiều cortisol - thường được gọi là “khủng hoảng hormone”.
  • Bệnh xuất huyết khi cơ thể sản sinh quá nhiều hormone tăng trưởng.
  • Tăng năng tuyến giáp xảy ra khi tuyến giáp tạo ra quá nhiều hormon tuyến giáp.

Tuyến tụy bị tổn hại hoặc bị loại bỏ

Viêm tụy, ung thư tuyến tụy và chấn thương có thể gây hại cho các tế bào beta hoặc làm cho chúng ít có khả năng tạo ra insulin hơn, dẫn đến bệnh tiểu đường. Nếu tuyến tụy bị tổn thương được loại bỏ, bệnh tiểu đường sẽ xảy ra do sự mất mát của các tế bào beta.

Thuốc

Đôi khi một số loại thuốc có thể gây hại cho các tế bào beta hoặc làm gián đoạn cách thức insulin hoạt động. Bao gồm các

  • Niacin, một loại vitamin B3
  • Một số loại thuốc lợi tiểu, còn được gọi là thuốc nước
  • Thuốc chống động kinh
  • Thuốc tâm thần
  • Thuốc để điều trị virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV)
  • Pentamidine, một loại thuốc được sử dụng để điều trị một loại viêm phổi
  • Glucocorticoid - thuốc dùng để điều trị các bệnh viêm như viêm khớp dạng thấp, hen suyễn, lupus và viêm loét đại tràng
  • Thuốc chống từ chối, được sử dụng để giúp ngăn chặn cơ thể từ chối một cơ quan cấy ghépCác statin, là các loại thuốc để giảm mức cholesterol LDL ("có hại"), có thể làm tăng nhẹ cơ hội bạn phát triển bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, statin giúp bảo vệ bạn khỏi bệnh tim và đột quỵ. Vì lý do này, lợi ích mạnh mẽ của việc dùng statin lớn hơn cơ hội nhỏ mà bạn có thể phát triển bệnh tiểu đường. Nếu bạn dùng bất kỳ loại thuốc nào trong số này và lo lắng về tác dụng phụ của chúng, hãy trao đổi với bác sĩ của bạn.

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh xảy ra khi đường huyết của bạn, còn được gọi là lượng đường trong máu, vượt quá cao. Lượng đường trong máu là nguồn năng lượng chính của bạn và xuất phát từ thực phẩm bạn ăn. Insulin, một loại hoóc-môn do tuyến tụy tạo ra, giúp glucose từ thức ăn đi vào các tế bào của bạn để làm năng lượng sử dụng. Đôi khi cơ thể của bạn không có đủ hay không có chút nào insulin hoặc không sử dụng insulin tốt. Do đó Glucose từ thức ăn không được đưa vào tế bào sau đó ở lại trong máu của bạn. Theo thời gian, lượng glucose trong máu tích tụ có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe. Mặc dù bệnh tiểu đường không có cách chữa trị, bạn có thể thực hiện các bước để kiểm soát căn bệnh tiểu đường và giữ sức khỏe.

Điểm khác nhau giữa các loại bệnh tiểu đường

Các loại bệnh tiểu đường phổ biến nhất là bệnh tiểu đường loại 1, loại 2 và tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường loại 1

Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường loại 1, nghĩa là cơ thể bạn không tạo ra insulin. Hệ thống miễn dịch của bạn tấn công và phá hủy các tế bào trong tuyến tụy của bạn – những tế bào tạo ra insulin. Bệnh tiểu đường loại 1 thường được chẩn đoán ở trẻ em và thanh niên, mặc dù nó có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Những người mắc bệnh tiểu đường loại 1 cần dùng insulin mỗi ngày để duy trì sống.

Bệnh tiểu đường loại 2

Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường loại 2, nghĩa là việc tạo insulin hay sử dụng insulin của bạn không được tốt. Bạn có thể phát triển bệnh tiểu đường loại 2 ở mọi lứa tuổi, ngay cả trong thời thơ ấu. Tuy nhiên, bệnh tiểu đường loại này xảy ra thường xuyên nhất ở những người trung niên và lớn tuổi. Loại 2 là loại bệnh tiểu đường phổ biến nhất.

Tiểu đường thai kỳ

Bệnh tiểu đường thai kỳ phát triển ở một số phụ nữ khi họ mang thai. Hầu hết thời gian, loại bệnh tiểu đường này biến mất sau khi em bé được sinh ra. Tuy nhiên, nếu bạn bị tiểu đường thai kỳ, bạn có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2 trong cuộc sống sau này. Đôi khi bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong khi mang thai có thể chính là là bệnh tiểu đường loại 2.

Các loại bệnh tiểu đường khác

Các loại ít phổ biến hơn bao gồm bệnh tiểu đường monogenic (MODY), là dạng di truyền của bệnh tiểu đường và bệnh tiểu đường liên quan đến xơ nang.

Bệnh tiểu đường phổ biến như thế nào?

Tính đến năm 2015, 30,3 triệu người ở Hoa Kỳ, hay 9,4 phần trăm dân số Hoa Kỳ, bị bệnh tiểu đường. Hơn 1 trong số 4 người bị bệnh không biết họ mắc bệnh. Cứ 4 người độ tuổi 65 trở lên thì có 1 người bị ảnh hưởng bởi bệnh tiểu đường. Khoảng 90-95% trường hợp tiểu đường ở người lớn là bệnh tiểu đường loại 2.

Ai dễ mắc bệnh tiểu đường loại 2 hơn?

Bạn có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường loại 2 nếu bạn từ 45 tuổi trở lên, có tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường hoặc thừa cân. Lười hoạt động thể chất, chủng tộc vùng miền, và một số vấn đề sức khỏe như huyết áp cao cũng ảnh hưởng đến khả năng bạn mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn. Bạn cũng có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường loại 2 nếu bạn bị tiền tiểu đường hoặc bị tiểu đường thai kỳ khi bạn mang thai. Tìm hiểu thêm về các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tiểu đường loại 2.

Những bệnh nhân tiểu đường có thể mắc bệnh gì?

Theo thời gian, lượng đường huyết cao dẫn đến các vấn đề như sau

  • Bệnh tim
  • Cú đánh
  • Bệnh thận
  • Những vấn đề về mắt
  • Bệnh nha khoa
  • Tổn thương hệ thần kinh
  • Vấn đề về chân

Bạn có thể thực hiện các bước để giảm nguy cơ phát triển những vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tiểu đường này.

Lục phủ là 6 bộ phận của cơ thể con người: đởm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quan, tâm tiêu gọi là lục phủ. Công năng của lục phủ là tiêu hoá thức ăn uống, hấp thu và phân bố tân dịch, bài tiết phế liệu và cặn bã, chỉ nên tả ra mà không nên tàng chứa cho nên lục phủ lại có tên là “phủ truyền hoá”.

ĐỞM

  • Đởm bám vào gan, công năng sinh lý của đởm vừa có quan hệ tới sự tiêu hoá của thức ăn, vừa quan hệ tới hoạt động tinh thần. Vì thế đởm vừa được xếp vào lục phủ, vừa được xếp vào phủ kỳ hằng.
  • Đởm chứa nước mật, cho nên đởm lại được gọi là “phủ trung tinh”; Nước mật có vị đắng, cho nên khi đởm khí nghịch lên thì có chứng miệng đắng. Nếu nước mật tiết vào vị, theo vị khí nghịch lên, thì thành chứng nôn ra nước đắng.
  • Tinh của đởm là cương trực, cương thì hào hùng quả cảm, cho nên thiên linh đan bí điểm luận sách Tố Vấn gọi đởm là chức vụ trung chinh, chủ việc quyết đoán. Người có đởm khí hào hùng thì khí của ngũ tạng lục phủ cũng vì đó mà cương thịnh dù có bị kích thích từ ngoài tới sự việc qua thì trở lại bình thường ngay được đó là cái lẽ thường nói: “Khí nhờ đởm mà mạnh, tà không can phạm được”. Trái  lại, người đởm khí hư nhược hễ bị kích thích từ ngoài tới thì khí huyết rối loạn, thường gây thành bệnh. Ngoài ra, người đởm hư yếu cũng thường có những chứng tinh thần thất thường, mất ngủ hay sợ sệt, trong lòng nơm nớp không yên.
  • Do vậy các bệnh thuộc can và đởm hay phối hợp với nhau.

VỊ PHỦ

  • Vị phủ nằm ở dưới cách mạng, trên tiếp với thực quản, dưới thông với tiêu trường, miệng trên gọi là “bí môn”, miệng dưới gọi là “u môn”, bí môn cũng gọi là “thượng quản”, u môn cũng gọi là “hạ quản” ba vùng gọi là “vị quản”. Thức ăn uống từ miệng vào, qua thực quản rồi vào vị cho nên vị gọi là “đại thượng”. Cái kho lớn hoặc gọi là “bể của thủy cốc”.
  • Vị phủ có công năng thu nhận và tiêu hoá cơm nước, nếu vị có bệnh thì sẽ xuất hiện các chứng vùng bụng chướng đau, chướng đầy, tiêu hoá không tốt, đói không muốn ăn, nôn mửa, nuốt chua, hoặc tiêu cơm chóng đói.
  • Khí huyết của cơ thể là chất tinh vi trong đồ ăn uống hoá sinh, bắt nguồn ở vị. Vì thế vị vừa là bể của thủy cốc, vừa là nguồn gốc của khí huyết. Sự vận động của lục phủ ngũ tạng, chân tay xương khớp đều nhờ vào sự dinh dưỡng của khí huyết, cho nên người có vị khí sung bại không thu nhận được cơm nước thì tiên lượng phần nhiều là không tốt. Người xua có nói: “ăn được thì tốt, không ăn được thì chết” tức là nói về tình huống này.

TIỂU TRƯỜNG

  • Vị trí của tiểu trường: phía trên, tiểu trường tiếp với u môn, thông với vị, phía dưới tiếp với “Hạ lan môn” thông với đại trường.
  • Công dụng chủ yếu của tiểu trường là phân biệt thanh trọc, cơm nước trong vị sau khi đã chín nhừ đi qua u môn chuyển xuống tiểu trường, tại đây lọc lựa ra thứ thanh thứ trọc, thanh là tân dịch, trọc là cặn bã, thanh thì được hấp thu chuyển vào các bộ phận, cuối cùng thì thấm vào bàng quang; trọc thì chuyển xuống đại trường. Cho nên thiên linh đan bí điểm luận sách Tố Vấn nói: “Tiểu trường giữ chức vụ thu thành, vật biến hoá từ đó mà ra”.
  • Nếu tiểu trường mất chức năng gạn lọc, không tách ra được thanh trọc, thì thủy dịch ở bàng quang sẽ giảm sút, tiểu tiện ngắn, ít, thậm chí bí đái, đồng thời cả thanh và trọc trong tiểu trường đều dồn xuống đại trường mà có chứng đại tiện lỏng.
  • Tiểu trường có quan hệ biểu lý với tạng tâm

ĐẠI TRƯỜNG

  • Đại trường bao gồm 2 bộ phận: hồi trường và trực trường,  đầu cuối trực trường gọi là giang môn (phách môn).
  • Đại trường có công dụng hấp thụ phần nước gọi là “tế bí biệt trấp” vì cặn bã ở tiểu trường dồn xuống sau khi được đại trường hấp thụ phần nước mới thành phân. Vì thế đại trường là một cơ quan truyền tống cặn bã và làm cho cặn bã thành hình. Cho nên thiên linh đan bí diễn luận sách Tố Vấn nói: “Đại trường giữ chức truyền tống, vật đã biến hoá từ đấy mà ra”.
  • Nếu đại trường hư  hàn, mất công năng “tế bí biệt trấp” thì có các chứng sôi bụng đau xoắn ỉa chảy. Trái lại, đại trường thực nhiệt, dịch ruột khô ráo thì xuất hiện chứng táo bón.
  • Đại trường có quan hệ biểu lý với tạng phế

BÀNG QUANG

  • Bàng quang ở vùng bụng dưới, là chỗ chất nước dồn góp lại.
  • Công dụng của bàng quang là bài tiết nước tiểu cất giữ tân dịch. Nước tiểu là sản vật của quá trình khí hoá, cũng như mồ hôi từ tân dịch hoá ra, cho nên thiên linh bí điển luận sách Tố Vấn nói: “Bàng quang giữ chức châu đô tân dịch chứa ở đó, khí hoá thì có thể thải ra”.
  • Nước tiểu từ tân dịch hoá ra, tân dịch thiếu, ít thì có chứng đái không thông. Trái lại, đái quá nhiều thì hao tổn tân dịch.
  • Cho nên bàng quang có tác dụng chủ việc thải nước tiểu và giữ tân dịch lại. Bàng quang quan hệ biểu lý với tạng thận

TAM TIÊU

Tam tiêu là đường nguyên khí phân bố thức ăn uống chuyển hoá ra vào, chủ khí, chủ thủy, trông coi toàn bộ hoạt động khí hoá trong cơ thể.

Duy trì quá trình khí hoá chủ yếu nhờ nguyên khí mệnh môn. Khí hơi thở và khí cơm nước ở tràng vị. Nguyên khí mệnh môn là khí căn bản của tam tiêu. Nguyên khí đi vào tam tiêu phân bố khắp người để thúc đẩy mọi hoạt động sinh lý của các tổ chức cơ quan. Khí trời do phế khi hấp thu vào, giao khí với khí cơm nước của tràng vị tại khí hơi nhờ tác dụng túc giáng của phế và sự hoạt động của tâm mạch, tuyên tán khắp trong ngoài để cung cấp dinh dưỡng.  Cốc khí (khí cơm nước) nguyên khí, phế khí, nhờ đường tam tiêu mà vận hành khắp trong ngoài toàn thân, thấu khắp 12 kinh mạch, ngũ tạng lục phủ, cơ nhục, hoàn thành cả loạt tác dụng khí hoá của cơ thể.

Nói khí hoá, tức là làm cho những vật chất nào đó trong cơ thể hoá thành khí, khí lại hoá thành một số vật chất nào đó trong cơ thể. Đó cũng chính là qúa trình sinh hoá của sự hoá khí, hấp thụ thành hình bài tiết các thức của đồ ăn uống trong cơ thể. Cho nên thiên vinh vệ sinh hội sách Linh khu nói: “Thường tiêu như sương mù, trung tiêu như bọt nước sủi, hạ tiêu như nước chảy”

Sương mù là hình dạng khí thượng tiêu man mác như sương mù, xủi là hình dạng thức ăn uống chín nát ở trung tiêu, nước chảy là hình dạng chất nước ở hạ tiêu được thải ra. Cho nên nói tam tiêu là đường ra vào của thức ăn uống, chủ việc tuần hoàn và bài tiết thủy dịch của cơ thể.

Như những điều nói trên, tam tiêu có hai công năng chính: là chủ trì các khí, hai là thông điều đường nước nhưng tam tiêu có chia ra thượng, trung, hạ và mỗi phần đều có đặc điểm riêng:

a) Thượng tiêu:

Thượng tiêu từ họng xuống đến miệng trên dạ dày, công dụng chủ yếu của thượng tiêu là:

  • Thu nạp chất ăn uống không để nôn ra ngoài
  • Tiếp thu khí thủy cốc từ vị ra, phân bố khắp vùng cơ biểu toàn thân, để  ôn dưỡng cho cơ nhục, các khớp và da dẻ.

b) Trung tiêu:

Trung tiêu ở trung quản vị (từ miệng trên dạ dày xuống miệng dưới dạ dày). Công dụng chủ yếu của trung tiêu là:

  • Chín nhừ thức ăn uống, chứng hoá tân dịch
  • Tiếp thu tinh khí của thủy cốc, hoá sinh ra sinh khí

c) Hạ tiêu:

Hạ tiêu từ trung tiêu xuống chỗ vùng bụng dưới, công dụng chủ yếu của hạ tiêu là: gọn lọc chất thanh, chất trọc, bài tiết chât bỏ đi, khí của hạ tiêu đi xuống chủ đưa ra mà không nhận vào.

Như trên có thể thấy được thượng, trung, hạ, tam tiêu bao gồm đủ ngũ tạng lục phủ, 12 kinh mạch, có những công dụng hô hấp, tiêu hoá thức ăn uống, hấp thụ, bài tiết sinh hoá khí huyết. Cho nên mới có công dụng của tam tiêu quan hệ với công năng khí hoá của toàn bộ cơ thể.

(Phan Tâm Đường - sưu tầm và chọn lọc)

Học thuyết tạng tượng (hay còn gọi là học thuyết tạng phủ) là học thuyết nghiên cứu công năng sinh lý và quá trình biến hóa bệnh lý của tạng phủ - Quy luật hoạt động của các bộ phận trong cơ thể theo nguyên lý của  YHCT.

1. Đại cương về học thuyết tạng tượng (tạng phủ)

Cơ thể con người:

  • Ngũ tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận
  • Lục phủ:  tiểu trường, đại trường, đởm, vị, bàng quang, tam tiêu
  • Phủ kỳ hằng:  não, tuỷ, bào cung
  • Ngũ thể: da, lông, gân, cơ, móng
  • Cửu khiếu: mắt, mũi, tai, miệng, tiền âm, hậu âm
  • Kinh lạc: 12 kinh, 15 lạc, 8 mạch

1.1. Khái niêm trong học thuyết tạng tượng

“Tạng” là các tổ chức cơ quan ở trong cơ thể

“Tượng” là biểu tượng của hình thái, sinh lý, bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài cơ thể. Vì thế quan sát cơ thể sống để nghiên cứu quy luật hoạt động của nội tạng gọi là “tạng tượng”.

1.2. Cơ sở hình thành học thuyết tạng tượng

  • Giải phẫu cổ xưa
  • Biểu hiện HĐ chức năng
  • Tạng: Tạng phủ, cơ quan
  • Tượng: Hiện tượng chức năng

Nghiên cứu sự hoạt động nội tạng của cơ thể là dựa vào sự phát triển của giải phẫu học ở một mức độ nhất định. Giải phẫu học xưa đã có nguồn gốc rất sớm, các sách “tố vấn”, “linh khu” và Hải Thượng Lãn Ông đã ghi chép rất nhiều kiến thức nói về giải phẫu. Nhưng học thuyết “Tạng Tượng” lại không hoàn toàn dựa vào giải phẫu học, nó là một thứ học thuyết theo sự chỉ đạo của quan điểm “Người và hoàn cảnh bên ngoài là một thể thống nhất” mà quan sát cẩn thận và nghiên cứu nhiều lần ở con người sống, đồng thời thông qua chứng nghiệm thực tiễn chữa bệnh lâu dài và dùng học thuyết âm dương ngũ hành để nói rõ thêm.

1.3. Nội dung học thuyết “Tạng tượng”

Đầu tiên chúng ta cần phải có nhận thức về học thuyết “Tạng tượng” dưới đây:

  • Mỗi một tạng, không phải chỉ là thực chất cơ quan trong giải phẫu học, mà chủ yếu bao gồm cơ năng hoạt động sinh lý của tạng đó và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với các tạng khác.
  • Hệ thống hoạt động của tổ chức cơ quan dựa vào mối liên hệ lẫn nhau trong hoạt động sinh lý của các tạng mà phân chia ra.
  • Học thuyết tạng tượng đã phản ánh đầy đủ sự thống nhất trong nội bộ cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài. Tính thống nhất này biểu hiện ở chỗ hoạt động sinh lý, bệnh lý của hệ thống ngũ tạng quan hệ với sự thay đổi của 5 mùa quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ với các tổ chức phần ngoài cơ thể, với hoạt động tư duy của con người.

Nội dung của tạng tượng bao gồm: mọi tổ chức cơ quan và qui luật của chúng: tâm, can, tỳ, phế, thận, đờm, vị, đại trường, tiểu trường, bàng quang, tâm bào, não, tủy, cốt mạch, tử cung, kinh lạc, khí huyết, đinh vệ, tinh khí thần, tân dịch cho đến da, lông, gân, thịt, móng, tóc, tai, mắt miệng, lưỡi, mũi, tiền âm, hậu âm. Trong những tổ chức cơ quan này theo tính chất và công năng của chúng để phân loại, quy nạp, chia thành ngũ tạng (5 tạng), lục phủ, phủ kỳ hằng ngũ quan, cửu khiếu và tinh, khí, thần vv… Nhờ đó số nội tạng được sắp xếp có hệ thống tiện cho việc nhận thức và nắm vững vấn đề.

2. Các tạng, phủ và quan hệ giữa các tạng phủ

2.1. Các tạng:

Tạng có chức năng chung là tàng giữ tinh khí. Có 5 tạng chính và 1 phụ là:

Tâm (phụ là Tâm bào) - Can - Tỳ - Phế - Thận. Quan hệ giữa các Tạng là quan hệ Ngũ hành sinh, khắc.

  • Tương sinh: Can sinh Tâm, Tâm sinh Tỳ, Tỳ sinh Phế, Phế sinh Thận, Thận sinh Can
  • Tương khắc: Can khắc Tỳ, Tỳ khắc Thận, Thận khắc Tâm, Tâm khắc Phế, Phế khắc Can.

2.2. Các phủ:

Chức năng chung của các Phủ là truyền tống, hấp thu, bài tiết (Phủ có nghĩa là nơi trú ngụ) trên đầy thì dưới vơi và dưới vơi thì trên phải đầy, phải luôn thay đổi.

Ví như khi Vị rỗng thì Đại trường và Bàng quang phải đầy, khi ta ăn vào, Vị đầy thì Đại trường và Bàng quang phải tháo rỗng.

Có 6 phủ là: Đởm - Tiểu trường - Đại trường - Vị - Bảng quang và Tam tiêu.

Ngoài ra còn một số Phủ đặc biệt gọi là Phủ kỳ hằng như Não, Tử cung.

2.3. Quan hệ giữa Tạng và Phủ:

Là quan hệ Âm Dương, Biểu Lý. Biểu là ở phía bên ngoài, Lý là ở phía bên trong, Biểu thuộc dương, Lý thuộc âm.

Mỗi Tạng đều quan hệ biểu lý với một Phủ.

  • Tâm biểu lý với Tiểu trường
  • Can biểu lý với Đởm
  • Tỳ biểu lý với Vị
  • Phế biểu lý với Đại trường
  • Thân biểu lý với Bàng quang
  • Tâm bào biểu lý với Tam tiêu.

3. Các thể chất khác:

3.1. Khí - Huyết:

Khí và Huyết quan hệ âm dương. Khí là dương, Huyết là âm. Khí Huyết
Huyết là mẹ của Khí, Khí là thống soái của Huyết. Khí hành, Huyết hành; Khí trệ, Huyết ứ.

3.1.1. Khí:

Khí là động lực cho mọi hoạt động của cơ thể. Mỗi tạng cần một dạng khí riêng goi theo tên tạng đó như Tâm khí, Thân khí, Can khí, Tỳ khí, Phế khí.
Dựa vào nguồn xuất phát của khí ta có:
- Tông khí từ Thượng tiêu (Tâm Phế)
- Trung khí từ Trung tiêu (Tỳ Vị)
- Nguyên khí từ Hạ tiêu (Can Thận).

3.1.2. Huyết:

Huyết là chất dịch màu đỏ được Thận tạo ra từ Tinh, Huyết do Tâm chủ quản, do Tỳ khống nhiếp và được tàng chứa tại Can.

3.2. Tinh - Thần:

Tinh và Thần quan hệ âm dương, Tinh là âm, Thần là dương. Tinh dồi dào đày đủ thì Thần minh mẫn, vững vàng.

3.2.1. Tinh:

Tinh là cơ sở vật chất, Khí và thần đều do Tinh. Tinh, Khí, Thần là yếu tố cơ bản của sự sống. Tinh bao gồm Tinh tiên thiên và Tinh hậu thiên có quan hệ hỗ tương.
· Tinh tiên thiên là bẩm tố từ bô mẹ, là hệ gien trong các nhiễm sắc thể của tế bào sinh dục, tinh trực thuộc Thận, mang tính huyết thống, đặc điểm giống nòi.
· Tinh hậu thiên do Tỳ vận hoá thức ăn. Tinh hậu thiên là nguồn động lực cho các Tạng Phủ.
Muối cải tạo giống nòi cần quan tâm bồi dưỡng, cải tạo cả hai loại tinh: tinh tiên thiên (giống, gieo) và tinh hậu thiên (thức ăn, môi sinh).

3.2.2. Thần:

Thần bao gồm những hoạt động tâm thần, tư duy, ý thức đồng thời chỉ huy, điều hoà chức năng của các tạng phủ. Tinh, Khí đầy đủ thì Thần sáng suốt, vững vàng, có thể coi Thần là biểu hiện của Tâm qua ánh mắt, vẻ mặt và ứng xử.

3.3. Tân - Dịch:

Tân, Dịch là hai loại chất lỏng, thuộc âm, do Thận chủ quan, nguồn gốc từ Tỳ tạo ra.

3.3.1. Tân:

Là chất dịch trong, dịch gian bào.
Tác dụng làm nhu nhuận da thịt.
Ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều sẽ làm Tân khô kiệt (Hội chứng mất nước và điện giải).

3.3.2. Dịch:

Là chất dịch đục thường ở trong bao khớp.
Tác dụng làm trơn nhờn khớp xương.
Sốt cao, ỉa chảy, nôn, ra mồ hôi nhiều là nguyên nhân làm khô cạn Tân dịch. Rối loạn chức năng của Phế, Tỳ, Thận làm ứ đọng Tân dịch gây chứng phù thũng.

 

Kết hợp giữa y lý của YHCT Đông phương cùng với các học thuyết triết học duy vật cổ như âm dương, ngũ hành, tạng tượng Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng lên học thuyết Thủy Hỏa. Ông cho rằng  “chữa bệnh nặng không biết đến thủy, hỏa; chữa bệnh nhẹ không biết đến khí huyết thì chẳng khác chi trèo cây tìm cá”.

I. KHÁI NIỆM VỀ THỦY HỎA

Mọi thứ trong trời đất dù là vô hình, hữu hình đều do sự vận động của trời đất mà có, hay nói cách khác là do có sự giao hợp lẫn nhau giữa khí trời và khí đất. Khí trời là dương, trong khí trời có cả ảnh hưởng của mặt trời. Đất là âm, trong khí đất có cả hơi nước ở đất. Khí trời, khí đất là khí vô hình; ánh lửa, hơi nước là khí hữu hình. Vì thế khi nói là khí âm dương là đã có sự trung hoà lẫn nhau giữa khí và chất. Khí là dương, chất là âm. Trong chất là âm có ánh lửa thuộc dương, hơi nước thuộc âm, trong khí dương có khí trời thuộc dương, khí đất thuộc âm. Đó là trong dương và âm đều có âm dương.

Nội kinh viết: Trời đất lấy 2 khí âm dương mà hoá sinh muôn vật. Con người lấy 2 khí âm dương mà nuôi sống mọi nơi.

Trời đất hoá dục muôn vật đều phải do sự xâm nhập của khí âm dương trong bốn mùa, rồi mới có thể phát triển được công năng: sinh trưởng, thu, tàng; để làm chung thuỷ cho muôn vật. Vì vậy trời đất lấy 2 khí âm dương mà hoá sinh muôn vật. Thuỷ hoả là chỗ bình hiện rõ ra của âm dương, mà âm dương là tính hình của thuỷ hoả. Như vậy thông qua thuỷ hoả mới hiểu được âm dương và cũng thông qua âm dương mới hiểu được sự tương quan và tác động lẫn nhau giữa thuỷ và hoả.

1.1. Thuỷ - hoả trong thiên nhiên.

Thuỷ là nước, chỗ nhiều nước nhất là biển; gốc của nước là mặn. Nước còn có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: nước thể lỏng, hơi, mây, mù, sương, mưa, tuyết, nước trong đất, nước ở trong động vật và thực vật. Nước ở trong không gian: sông, ngòi, suối...

Hoả là lửa, chỗ có nhiều lửa nhất là mặt trời. Lửa có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: lửa mặt trời, lửa trong lò, trong lòng đất, trong sấm, chớp...

Thuỷ hoả luôn có hai mặt đối lập nhau về thể, tính, năng, dụng:

1.2. Sự giao hợp của thuỷ hoả:

Mọi sự sống trên trái đất đều do sự giao nhau của thuỷ và hoả. Mặt trời chiếu xuống, hơi nước bốc lên, thì mới có mây mưa- mới có mọi sinh vật trên trái đất.

Nội kinh viết: "Thanh dương là trời, trọc âm là đất, khí đất bốc lên thành mây, khí trời giáng xuống thành mưa, mưa làm ra bởi địa khí, mây làm ra bởi thiên khí". Đã nói rõ khí âm dương có "hô giao" rồi sau mới thành được cái biến hoá nay lên mưa xuống, để hoá sinh ra muôn vật.

Ta thấy mọi sự sống đều phải nhờ có mặt trời, có nước. Nếu chỉ có mặt trời mà không có nước thì tất cả sẽ bị đốt khô hoặc nếu chỉ có nước mà không có mặt trời thì tất cả tối tăm lạnh lẽo thì làm gì có sự sống được. Cho nên mọi sự sống xuất hiện đều do ở sự giao tiếp lẫn nhau giữa thuỷ và hoả. Thuỷ hoả giao nhau gọi là thuỷ hoả ký tế, ký tế thì sinh ra vật. Ngược lại thuỷ hoả không giao tiếp với nhau gọi là thuỷ hoả vị tế.

Ánh sáng mặt trời nuôi sống mọi vật gọi là ôn dưỡng, nước nuôi sống muôn vật gọi là nhu dưỡng. Ôn là ấm không phải là nóng, nhu là mát chứ không phải là ướt... làm có sự ôn, sự nhu là nhờ có thuỷ hoả giao nhau. Sự sống được bình thường là do ôn dưỡng và nhu dưỡng luôn luôn ở trong sự cân bằng tương đối.

Ví dụ: Thân nhiệt của con người 370C là nhờ sự cân bằng giữa hai quá trình ôn nhu.

hoc-thuyet-thuy-hoa-hai-thuong-lan-ong-1

(Thủy hỏa - Sưu tầm)

1.3. Thuỷ hoả trong con người:

Trong cơ thể con người, làm nền sự ôn dương gọi là dương khí, làm nền sự nhu dưỡng gọi là âm huyết. Dưỡng khí, âm huyết luôn luôn tồn tại và hỗ căn lẫn nhau, hai mà một, một mà hai. Đó là sự hiện hình của âm dương, cũng là thực thể của thuỷ hoả giao hợp với nhau trong nhân thể.

Thuỷ hoả tiên thiên là nguồn gốc sinh ra con người. Từ nam giới (dương) và nữ giới (âm), có giao hợp thì mới sinh được con cái. Âm dương có giao nhau thì thuỷ hoả mới tụ lại, bốn thứ ấy hợp lại là một thì gọi là giao khí, giao khí; là thứ khí có từ ban đầu gọi là nguyên khí, cũng gọi là bẩm khí tiên thiên... Từ khí có bẩm khí tiên thiên mới phát triển thành hình thể và thần khí của con người. Hình thể là âm từ thuỷ mà hoá thành, thần khí là dương mà sinh ra. Chính vì có âm dương; thuỷ hoả giao hoà lẫn nhau mà thể ôn của người ta là 370C. Mỗi khi âm, dương; thuỷ, hoả mất cân bằng thì thể ôn của người sẽ thay đổi và khi không còn thể ôn nữa là chết.

Thuỷ hoả trong bẩm khí tiên thiên gọi là chân thuỷ, chân hoả. Chân tức là khí chân nhất (chân là thực, nhất là 1, một là số bắt đầu và tạo nên mọi số), mọi sự hoá sinh của con người đều bắt nguồn từ khí chân nhất ấy, đó là nguồn gốc của mọi hoạt động sinh lý.

Chân thuỷ, chân hoả là thuỷ hoả vô hình, tuy là vô hình nhưng luôn luôn tồn tại trong cái hữu hình và thể hiện ra cái hữu hình. Cho nên chúng ta có thể biết được nó bằng cách theo dõi diễn biến của nó ở cái hữu hình.

Ví dụ:

  • Thuỷ suy không giữ được hoả- hoả bốc lên: có biểu hiện: có bốc nóng, nhức đầu, hoa mắt, đỏ mặt, nóng ngực, khó thở, tim đập nhanh…
  • Hoặc hoả suy-thiếu sự ôn dương, có biểu hiện: người lạnh, chân tay lạnh, ăn uống chậm tiêu, đầy bụng, ỉa lỏng, người mệt mỏi, sợ lạnh...

Người ta vì có chân thuỷ, chân hoả trong bẩm khí tiên thiên nên trong cơ thể mới luôn luôn có sự ôn dưỡng và nhu dưỡng. Nhưng để thực hiện việc ôn dưỡng và nhu dưỡng khí với huyết chứ không phải chân thuỷ, chân hoả. Chân thuỷ, chân hoả là cái gốc bẩm sinh từ tiên thiên mà do thận làm chủ. Khí huyết là cái ngọn; sinh ra từ hậu thiên do tâm can, tỳ phế là chủ về khí.

Có chân thuỷ, chân hoả mới có nguồn sinh ra khí huyết, có khí huyết thì chân thuỷ, chân hoả mới có công dụng hoá sinh và tồn tại. Cho nên khi nói đến khí là có sự liên hệ đến hoả đến dương; khi nói đến huyết là có sự liên hệ đến thuỷ đến âm. Hải Thượng Lãn Ông nói; "Toàn bộ nhan thể không ra ngoài hai chữ âm dương tức là thuỷ với hoả, mà hai chữ thuỷ hoả tức là khí huyết".

II. NỘI DUNG HỌC THUYẾT THỦY HỎA.

2.1. Nguồn gốc của học thuyết thuỷ hoả.

Học thuyết thuỷ hoả hay là học thuyết tâm thận do Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII dựa trên định lý đã xây dựng nên. Trên cơ sở đó Ông đưa ra phương pháp trị liệu "Giáng tâm hoả, ích thận thuỷ" làm phương châm điều hoà 2 quá trình "thuỷ hoả", lập lại cân bằng âm dương, làm tiêu tán bệnh tật. Với phương châm đó Hải Thượng Lãn Ông đã sử dụng thành công 2 bài thuốc cổ phương: lục vị và bát vị để bổ thuỷ, bổ hoả; đồng thời ông là người đã sử dụng pháp biến phương tinh thông từ bài thuốc này để điều trị hơn 50 chứng và bệnh.

Ông nói: "Nhà y mà không hiểu rõ chân tướng của tiên thiên thái cực, không nghiên cứu tác dụng thần diệu của thuỷ hoả vô hình mà không thể trọng dụng được những bài thuốc hay như lục vị, bát vị làm thuốc còn thiếu sót hơn một nửa".

hoc-thuyet-thuy-hoa-hai-thuong-lan-ong-2

(Hải Thượng Lãn Ông - Sưu tầm)

2.2. Dịch lý trong học thuyết thuỷ hoả - Hải Thượng Lãn Ông:

Người xưa cho rằng: con người là một vũ trụ nhỏ, trước khi hành thành con người chỉ có khí âm dương của cha mẹ. Đó là giai đoạn tiên thiên, cũng như mô hình của vũ trụ là giai đoạn âm dương biến ra ngũ hành. Vì vậy học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết bao quát của hai giai đoạn của vũ trụ khi âm dương đã biến hoá ra ngũ hành thành thế giới có hình thì hành thuỷ được sinh ra trước tiên, cho nên ứng với số 1.

Vũ trụ đã có âm phải có dương, cho nên hành hoả sinh ra tiếp theo và ứng với số 2. Tiếp đó hành mộc ứng với số 3, hành kim ứng với số 4 và hành thổ ứng với số 5. Cũng như vũ trụ có 5 hành thì con người cũng có 5 tạng. Con người hình thành bắt đầu từ tạng thận tượng tạng với hành thuỷ, sau đó mới đến các tạng khác.

Con người cũng như vạn vật hữu hình theo dịch học là thuộc thế giới hậu thiên. Trong tượng hình "tiên thiên bát quái" thì trục nam bắc là hai quẻ ly khảm, tương ứng với con người là trục tâm thận. Theo ngũ hành thì tâm thuộc hoả, thận thuộc thuỷ. Hoả là quẻ ly, phương vị là phía nam; thuỷ là quẻ khảm, phương vị là phía bắc trong hậu thiên đồ. Vì vậy trục tâm thận của con người ứng với trục ly khảm của vũ trụ.

Dựa theo mô hình âm dương ngũ hành của định lý, Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng nên học thuyết thuỷ hoả hay học thuyết tâm thận.

Ông viết: "Tạng tâm thuộc quẻ ly, có một hào âm ở giữa hai hào dương" vả lại trong tâm chứa máu đỏ tức là chân âm. Còn tạng thận thuộc về quẻ khảm có một hào dương giữa hai hào âm, hơn nữa trong tạng thận có chứa tướng hoả là chân dương vậy. Tạng thận thuộc hành thuỷ tạng tâm ở trên; tạng tâm thuộc hành hoả thời tương giao với tạng thận. Như vậy theo quẻ "ký tế" tạng thận lại vận dụng ở trên mà tạng tâm lại truyền tống ở dưới".

Theo ông thuỷ hoả là gốc sinh ra con người, tác dụng của thần minh; thuỷ là nguồn của hoả, hoả là chủ của thuỷ. Thuỷ hoả phải cân bằng mà không nên chênh lệch, nên giao hợp mà không nên phân chia, tính hoả bốc lên, nên bắt cho đi xuống; tính thuỷ thấm xuống nên khiến cho đi lên; thuỷ lên hoả xuống gọi là giao nhau. Hoả tức là dương khí, thuỷ tức là âm tinh; Hai thứ ấy sánh đôi gọi là âm dương hoà bình cũng gọi là thiếu hoả sinh khí, thăng bằng.

Thì thuỷ hoả giúp nhau. Hoả tức là khí chân dương, khí chênh lệch thì dương khí bị kích thích mà thành ra hoả; thủy với nguyên khí không cùng sánh đôi được mà sinh ra hiện tượng bệnh tật.

Khi bàn về hoả tiên thiên và hậu tiên thiên, Hải Thượng Lãn Ông viết: "Loài người sinh ra ở hội dần, mà dần tức là hoả. Hoả là thế của dương khí, tạo hoá lấy dương khí làm chủ bản để sinh ra muôn vật, người ta lấy hoả làm cửa của sinh mệnh. Vì thế cần thiết nhất phải nuôi dưỡng chân hoả. Khí trời mở đầu ở hội tý, là gốc của hậu thiên. Hoả là gốc của sự sống, dương là công dụng của hoả. Cho nên có câu: "Trời không có hoả thì không sinh được muôn vật, người không có hoả thì không sinh sống được".

Trong cơ thể con người thứ hoả ở trên là quân hoả, thứ hoả ở dưới, là tướng hoả; Trong thiên nhiên hoả ở mặt trời là hoả phần trên, hoả ở trong lòng đất là hoả ở phần dưới. Có hoả thì mới có quang, có nhiệt, có động, có chưng bốc, có cũng như không có nước thì không có hoá sinh, không có sự sống. Người ta là một vũ trụ nhỏ nằm trong vũ trụ lớn, cho nên mỗi sự hoá sinh trong cơ thể cũng cần có hoả. Trong cơ thể người tâm hoả ở phần trên là

Quân hoả, chủ về thần minh; mệnh môn hoá là hoả của thận ở phần dưới, là tướng hoả và chủ về sinh thành.

Như chúng ta đã biết, nội kinh viết: "Tâm là quân chủ chi quan, thần minh xuất yên" Tâm là quân hoả, có tâm hoả tác động vào thận thuỷ thì mới có sáng suốt, minh mẫn được. Thần sinh ra ở tịnh khí của thận lên quy vào tâm hợp thành quẻ ly, là khi âm tinh tàng ở trong, dương tinh bọc ra ngoài thì hoả của tâm mới quang minh, sáng rực và soi được muôn vật. "Như vậy thần là tâm hoả được thận âm giúp đỡ vào, đó cũng là con đường "thuỷ tế hoả".

Đường Dung Xuyên nói: "Khi mà chân tinh hợp được bên trong thì chân quang phát sáng ra ngoài, thể là thần minh xuất ra vậy. Vì tâm thuộc hoả có ánh sáng, tuỳ thuộc thận có khả năng thu nhận và dẫn rộng ra khi sáng cùng soi nhau, vạn vật được sáng ra".

Não là bể tuỷ do thận sinh ra. Trong người ta, não được ví như mặt trăng; tâm được ví như mặt trời ánh sáng của mặt trời có chiếu vào thì mặt trăng mới sáng lên. Nói cách khác đi "thần" chính là tâm hoả đắc được thận thuỷ làm cho tâm xuất ra thần, tuỷ là cái dụng của tâm, tuỷ là tinh khí của thận tuỷ, nó đã được tâm hoả soi sáng, từ đó sinh ra tri giác.

Đường Dung Xuyên lại nói: "Con người sở dĩ có tri giác là do thần làm chủ, mà tâm là nơi tàng thần".

Có thần thì mới có minh và có minh thì mới có thần. Tâm thời quan chủ có thần minh thời 12 cơ quan đầu yên, nếu tân chủ không giống thời 12 cơ quan sẽ không yên. Nội kinh viết: "Tâm là một cơ quan quân chủ, nếu chủ minh thời dưới yên. Chủ không minh thời 12 cơ quan sẽ nguy".

Trong thần còn chia ra 2 phần: hồn và phách. Hồn là phần dương của tinh, phần linh của khí. Can chủ huyết mà trong đó có dương khí, dương khí đó tức là hồn. Nguồn gốc của hồn sinh ra ở hào dương trong quẻ khảm, nhưng lại ở can, "can tàng hồn", không ở thận mà ở can là âm ra dương và ở can là dương chìm trong âm. Ban ngày thì hồn đi ra mắt mới trông được, ban đêm hồn quay về can mà sinh ra ngủ. Hồn không yên thì hay chiêm bao, hồn không mạnh thì hay khiếp sợ.

Phách là thứ linh nhất của âm tinh. Can chủ huyết bồn là âm mà lại tàng hồn là dương, phế chủ khí là dương tàng phách là âm. Đó là trong âm có dương và trong dương có âm.

Chí là thần sinh ra ở tinh, chí sinh ra ở tâm cũng là cái lẽ tâm thận giao nhau. Trương Chí Thống nói: "Lối thoát của tâm gọi là chí, thần sinh ra tử tinh, chí sinh ra tử tâm: Đây cũng là trường hợp giao nhau và tế nhau".

Đường Dung Xuyên thì nói: "Chỉ lấy tác dụng của gốc ở tâm để tàng chữa trong thận, đây là dương tạng chứa trong tâm. Thận sinh tinh được xem là cáo gốc của ngũ tạng, tinh sinh ra tuỷ được xem như cái gốc của xương. Khi mà tinh và tuỷ được sung túc thì kỹ xảo xuất hiện, đó là cáo dụng của chí. Chữ chí có nghĩa là ghi nhớ, được ghi vào thận vì thận sinh tinh, tinh hoá thành tuỷ để rồi tàng trữ trong não. Sự vật qua vào mắt vào tai, vào tâm du nhập vào não. Tuỷ trong não giữ lại những sự vật đó. Khi ta muốn nghĩ đến vật nào đó thì tâm nghĩ ra trước rồi sự vật trong não sẽ xuất hiện ra. Bởi vì tâm hoả như ánh sáng mặt trời, như tấm gương... Âm thấp trong não tuỷ như phần ghi hình...".

Như vậy thủy hoả giao nhau tốt thì người đó có trí nhớ tốt, tâm thận phải giao nhau thì mới có sự sống và mệnh môn hoả phải thường được bổ sung nhờ tâm.

Khi nói về quan hệ của tạng tâm và tạng thận, Nội kinh viết: "Tâm hợp với mạch, vinh ra sắc nó, chủ ở thận".

Đường Dung Xuyên chú giải: "Cái lý của ngũ hành tương sinh, tương chế, chế thì sinh hoá. Tâm thuộc hoả tạng và chịu chế bởi thận thuỷ. Đây là thận đóng vai trò chủ đạo cho sự sinh hoá của tâm. Tâm thuộc ly hoả ()", hào âm ở trong quẻ ly hàm chứa thuỷ của quẻ khảm, tâm sở dĩ sinh huyết cũng nhờ thuỷ đến giao với hoả. Chỉ khi nào thuỷ có "tế" được hoả thì công dụng của hoả mới thành".

Thận là tạng thuộc thuỷ hoá, chủ và tiên thiên, vì thận thuộc thuỷ trong cơ mệnh môn hoả. Hiểu thận thuỷ ở đây: Thuỷ không phải là nước mà là chất. "Thuỷ là vạn vật chi nguyên", là cái mở đầu cho mọi cáo hình hiện, khí hoá chất phải thông qua thuỷ, nên thận thuộc thủy. Thuỷ sinh ở phía bắc dưới nên thận nam ở dưới nhất, nên tinh của thuỷ nằm ở thận. Trong thuỷ không có hoả thì thành bằng, nên trong thuỷ phải có hoả đó là hào dương trong quẻ khảm.

Thiên là chỉ ông tổ, bà tổ loài người, tinh là nguồn dòng của sinh tồn tử.

Khi sinh ra và lưu truyền nòi giống nên thận tàng tinh, nên nói chủ về tiên thiên và nơi tàng tinh.

Tiên thiên quyết định sự sống, khí của thận là nguyên khi, âm dương của thận gọi là chân âm, chân dương hoặc chân thủy chân hoả của nguyên dương (nguyên là cái ban đầu) chân tả chí có cái đó mà thôi không có cái nào thay thế được). Người ta sở dĩ không ai giống ai và có tính khác nhau là nhờ ở cái chân nhất này, cái tiên thiên này và đó là chân của nguyên...

Thuỷ là âm (tĩnh), tụ lại tạo thành hình chất. Hoả là dương (động), tạo thành khí. Con người có 2 phần, phần khí thuộc dương sinh ra dụng, hình chất thuộc âm sinh ra thể. Người ta sinh ra từ 4: Thuỷ, hoả, âm và dương của cha mẹ; thận là giữ nguồn gốc. Sự hoá sinh đều lấy gốc ở thận, thận là gốc của sinh mạng. Thận thuỷ không được tách rời hoả, đó là hào quang trong quẻ khảm.

Mệnh môn hoả là thận dương, ta hình dung mệnh môn hoả đối với sự sinh hoá của người giống như lửa trong lòng đất. Lòng lòng nước đối với sự hoá sinh. Hoả là vô hình, ta chỉ thấy hoả diệm sơn, càng đi vào lòng đất càng nóng; trời càng lạnh đất càng nóng. Hoả này được nuôi dưỡng bởi ánh sáng mặt trời.

Mệnh môn hoả là vô hình, khi ta thở khí trời là ta bổ sung cho nguồn hoả này. Hoả của mặt trời trung ương ở tâm, rồi đưa xuống thận. Vì vậy tâm thận phải giao nhau. Mệnh môn hoả chỉ đạo khe đọng, là nguồn động lực cho vận động nội tạng. Thiếu thứ hoả này thì các tạng ngưng đọng không hoạt động. Mệnh môn hoả phân bổ hoả đi đến các tạng qua đường kinh tam tiêu. Tam tiêu đưa hơi nóng thông qua các màng để chuyển dịch đi.

Tam tiêu là biệt xứ của nguyên khí, các tạng phủ hoạt động được là nhờ hoả khí của tam tiêu mà gốc là hoả của thận khí.

Nội kinh viết: "Tam tiêu là quyết độc chi quan, thuỷ đạo xuất ra từ đây. Gốc của tam tiêu là cơ quan có nhiệm vụ khai ngòi lạch nước, thuỷ đạo xuất ra từ đây. Gốc của tam tiêu là mệnh môn. Tam tiêu có bản khí là tướng hoả, có đường kinh thủ thiếu dương, đường kinh này biểu lý với quyết âm tâm bào lạc, như thế là tướng hoả có sự tương thông với quân hoả. Quân hoả và tướng hoả luôn luôn du hành trong tam tiêu, nhờ đó mà cho đường nước được lưu thông, khuyếch tán ra và không có sự ùn tắc. Người xưa nói: "Tam tiêu là quyết đoán chi quan, thuỷ đạo xuất yên"".

Tóm lại học thuyết thuỷ hoả được bắt nguồn từ vũ trụ quan theo dịch học của người xưa, trong đó quan niệm của con người là vũ trụ nhỏ. Trong con người quẻ khảm là tâm và thận tương ứng với trục nam bắc của trời đất thuộc ly (lửa) và tâm hoá, ích thận thuỷ để điều hoà 2 quá trình "thuỷ hoả".

III. ỨNG DỤNG CỦA HỌC THUYẾT THỦY HỎA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

Tất cả bệnh tật của con người, chưa có lệnh nào là không có âm dương mất cân bằng; thuỷ hoả thiên lệch. Cho nên việc điều trị phải đạt được điều hoà âm dương thuỷ hoả đến mức thăng bằng mới thôi.

Hải Thượng Lãn Ông là người đã hoàn thiện học thuyết thuỷ hoả và ông đã sử dụng 2 bài thuốc "lục vị" và "bát vị" và biến phương của nó một cách tinh thông để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng âm dương thuỷ hoả, nguyên nhân của các chứng bệnh.

Theo Hải Thượng Lãn Ông: "Chữa bệnh nặng không biết đến thuỷ hoả chữa bệnh nhẹ mà không biết đến khí huyết thì cũng như trèo cây tìm cá".

Âm dương thuỷ hoả là những khái niệm vô hình nhưng rất trọng yếu của học thuyết thuỷ hoả nói riêng và lý luận của y học cổ truyền nói chung. Dựa theo lý thuyết của dịch học Hải Thượng Lãn Ông đã chú ý đặc biệt vận dụng nó vào trong điều trị. Theo ông: "Tính của hoả hơi bốc lên, thời phải bắt cho nó đi xuống, tính thuỷ thấm xuống nên khiến cho đi lên, thuỷ lên hoả xuống gọi là giao nhau tức thuỷ hoả ký tế (quẻ ký tế). Hoả ấy tức là dương khí, thuỷ tức là âm tinh" hai bên hỗ căn thời gọi là âm dương hoà bình. Người chân âm thịnh thì phải bổ dương hưng khí âm phải theo khí dương mà lên, nay thời chỉ bổ âm thì sẽ ảnh hưởng đến tỳ vị, lại tuyệt mất nguồn sinh hoá của hậu thiên, như vậy thì bổ âm phải dùng thời thêm vào vị bổ dương".

Thông thường để bổ âm, củng cố chân thuỷ khuyên nên dùng lục vị. Còn để bổ nguyên khí, củng cố chân hoả của thận (nhất là những người hoả lực yếu hoặc thuỷ không thăng, hoả không giáng) thì dùng bát vị. Với những người mà bệnh âm dương đều hư yếu thì nên dùng bài "thập bổ hoàn" để không thiên lệch. Theo Hải Thượng Lãn Ông "người làm thuốc chỉ biết chăm chú về khí huyết, lấp chỗ trống ở chỗ hao, loanh quanh bào chí vật tứ quân; tuyệt nhiên không biết thuỷ hoả ở chỗ nào, sợ thục địa là nê trệ, nhục quế nóng và phụ tử mạnh mà không dám dùng nhiều thì đó chỉ là thầy thuốc tầm thường".

IV. KẾT LUẬN HỌC THUYẾT THỦY HỎA

Học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết bao quát của hai giai đoạn của vũ trụ khi âm dương đã biến hoá ra ngũ hành thành thế giới có hình thì hành thuỷ được sinh ra trước tiên. Vũ trụ đã có âm phải có dương, cho nên hành hoả sinh ra tiếp theo và sau đó là 3 hành còn lại. Cũng như vũ trụ có 5 hành thì con người cũng có 5 tạng. Con người hình thành bắt đầu từ tạng thận tượng tạng với hành thuỷ, sau đó mới đến các tạng khác.

Dựa theo mô hình âm dương ngũ hành của định lý, Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng nên học thuyết thuỷ hoả hay học thuyết tâm thận. Học thuyết Thủy hỏa của Ông đã đặc biệt chú ý nó vào trong điều trị và chữa bệnh.

Học thuyết Thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông không những vừa mang tính sáng tạo, tính thực tiễn mà còn mang tính khoa học của thời đại.

Phan Tâm Đường - Sưu tầm và chọn lọc

Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn tác động qua lại vừa mâu thuẫn và vừa thống nhất với con người. Con người qua sự thích nghi, hòa hợp, chế ngự và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội để sinh tồn và phát triển. Học thuyết Thiên Nhân Hợp nhất là quan niệm con người là một khối thống nhất với tự nhiên và xã hội. Trong y học cổ truyền, học thuyết này giúp tìm ra nguyên nhân gây bệnh và phương pháp chữa bệnh toàn diện.

I. ĐỊNH NGHĨA HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Học thuyết Thiên Nhân Hợp Nhất còn gọi là Quan Niệm Chỉnh Thể. Trong y học cổ truyền từ xưa, người ta đã quan niệm: Cơ thể con người là 1 khối thống nhất giữa con người với khí hậu và hoàn cảnh xã hội, phong tục địa phương, có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong Y Học, học thuyết này được dùng làm chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh, gìn giữ sức khỏe, tìm ra nguyên nhân bệnh và đề ra các phương pháp phòng chữa bệnh toàn diện.

hoc-thuyet-thien-nhan-hop-nhat

(Thiên nhân hợp nhất - Sưu tầm)

II. QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ HOÀN CẢNH TỰ NHIÊN

Con người là một sinh vật trong vũ trụ “Nhân thân tiểu thiên địa” (con người như một vũ trụ thu nhỏ) do đó, chịu mọi ảnh hưởng và chi phối của vũ trụ.

2.1. Hoàn cảnh tự nhiên tác động tới con người.

2.1.1. Khí hậu thời tiết

Trong một năm có 4 mùa : xuân, hạ, thu, đông và có sáu khí (Lục khí) : Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nắng), Thấp (ẩm) (ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nóng), sáu thứ khí này đi theo 4 mùa, tác động đến sức khỏe con người. Khi sức khỏe yếu (chính khí hư), chúng sẽ trở thành những tác nhân gây bệnh bên ngoài gọi là tà khí…

Căn cứ vào chu kỳ nhất định của thời gian, áp dụng phương pháp thống kê, người ta đã xác định được những mùa nào hay có bệnh gì, nhất là bệnh truyền nhiễm.

Thí dụ : Bệnh Bại liệt thường gặp vào mùa xuân, và cuối hè, sốt xuất huyết hay gặp vào tháng 7, 8... Nguy cơ chết vì đau tim cao nhất về tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc...

Việc quy hoạch được thời gian tính của bệnh tật, giúp đưa đến những biện pháp phòng ngừa, phòng chống dịch một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy : Dược liệu thấm nhập vào cơ thể con người cũng theo một chu kỳ riêng. Năm 1959 Halberg đã thí nghiệm cho chích Ouabain (1 hoạt chất kích thích Tim) cho chuột nhắt, cho thấy, tỷ lệ chết ở các lô tiêm trong khoảng 8-12h rất cao, trái lại, tỷ lệ chết ở lô chích lúc 24h lại rất thấp... Hiểu rõ được thời gian tính của Dược liệu, sẽ giúp đưa Dược liệu vào cơ thể 1 cách chính xác hiệu quả ngay cả khi dùng liều nhỏ nhất.

2.1.2. Hoàn cảnh địa lý, phong tục tập quán.

Miền đồng bằng, miền rừng núi, miền Nam, miền Bắc, tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng…luôn luôn gây nên những bệnh địa phương và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Miền núi cao, do thiếu lượng Iốt từ biển mang vào, dễ phát sinh bướu cổ. Cuộc sống vội vàng, căng thẳng của người dân thành thị dễ đưa đến các bệnh loét bao tử, loét tá tràng. Khẩu phần dư thừa mỡ đưa đến các chứng xơ mỡ động mạch, suy Tim vành...

Miền rừng núi, đầm lầy, tạo điều kiện cho muỗi sống, dễ gây ra bệnh sốt rét...

2.2. Hoàn cảnh xã hội tác động tới con người

Điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội cũng tác động đến tư tưởng, tình cảm đạo đức của con người.

Ví dụ như:

  • Tại những nước ngoài, người dân có trình độ cao, rất ít khi gặp các chứng bệnh hay lây, thậm chí nhiều nước, bệnh lao phổi, cùi hủi... hầu như không còn có tên trong sách thuốc của họ nữa.
  • Tại những nước điều kiện kinh tế và văn hóa quá yếu kém, người ta thấy tỷ lệ các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh về đường ruột rất cao.
  • Trong một xã hội còn giai cấp bóc lột hoặc trong xã hội hết giai cấp bóc lột những tàn dư tư tưởng văn hoá của xã hội cũ hãy còn tồn tại, gây nên  những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người. Điều kiện kinh tế còn thấp kém, mức sống con người chưa cao là yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tập quán sinh hoạt như. Văn hoá không lành mạnh, những tập tục, những tư tưởng lạc hậu luôn tác động đến tư duy con người…Tất cả những yếu tố tiêu cực trê sẽ gây ra những tác nhân không tốt về tâm lý xã hội là điều kiện gây ra các bệnh nội thương mà YHCT thường nói tới.

2.3. Sự thích ứng của con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội

Các yếu tố bên trong cùng yếu tố tự nhiên và điều kiện xã hội luôn tác động tới con người. Chúng gồm những yếu tố tích cực, cần thiết cho sự sống của con người, nhưng ngược lại còn gồm cả những yếu tố góp phần gây ra những sự xáo trộn ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Vì thế, con người cần phải thích ứng, thích ứng với mọi hoàn cảnh, chế ngự và cải tạo thiên nhiên, xã hội... để sinh tồn và phát triển.

Muốn vậy, cần phải có sức khỏe, có sự hiểu biết để thích ứng với hoàn cảnh dưới nhiều hình thức phong phú : từ cách nghĩ, cách làm, lối sống đều phải hòa nhịp với tự nhiên, thời đại, có như thế mới sinh tồn và phát triển được.

III. ỨNG DỤNG VÀO Y HỌC

3.1. Trong chẩn đoán

Phải biết kết hợp nhiều mặt : Yếu tố bên ngoài (Lục khí : Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa) và yếu tố bên trong (vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ, thất tình) nắm được thời điểm gây bệnh (theo mùa, theo Ngũ vận Lục khí...), hiểu được hoàn cảnh (giàu nghèo, địa dư, phong tục...).

Tuy nhiên, chủ yếu phải nhận định rằng : Bệnh tật chỉ xảy ra do sự thay đổi nội tạng, tức là giảm sút sự đề kháng (chính khí hư) làm cơ thể không thể thích ứng được với ngoại cảnh, gây bệnh (tà khí thịnh).  Chính khí hư là vai trò nội nhân, quyết định sự phát sinh ra bệnh.

3.2. Trong điều trị

Người thầy thuốc Y học cổ truyền dân tộc, trong chữa bệnh, một mặt cần giải quyết nguyên nhân gây bệnh, (đuổi, trục tà khí ra), mặt khác, phải chú trọng đến việc nâng cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính khí). Ngoài ra, còn phải chú ý đến hoàn cảnh tự nhiên (địa dư, khí hậu...) hoàn cảnh xã hội, kinh tế (giàu nghèo, lớn bé), thời điểm phát sinh bệnh... của người bệnh để chọn phương thuốc điều trị cho thích ứng. Có thể sử dụng các phương pháp tổng hợp sau:

  • Tâm lý liệu pháp
  • Dự phòng trong điều trị: dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền…   
  • Ăn uống bồi dưỡng
  • Dùng châm cứu, xoa bóp, thuốc…
  • Khi dùng thuốc bao giờ cũng chú trọng đến các thuốc nâng cao các mặt yếu của cơ thể (bổ hư) về âm, dương, khí, huyết, tân dịch…rồi mới đến các thuốc tấn công vào tác nhân gây bệnh.

 

3.3. Trong phòng bệnh

"Phòng bệnh hơn chữa bệnh", đừng để bệnh tật xảy ra rồi mới điều chỉnh, nhưng giữ và phòng sao cho bệnh tật không thể xảy ra hoặc nếu lỡ có xảy ra thì cũng giảm nhẹ hơn.

3.3.1. Phòng bệnh tiêu cực (thụ động):

  • Ăn uống tốt, mặc ấm, giữ gìn vệ sinh cá nhân...
  • Điều độ sinh hoạt, tình dục, lao động...

3.3.2. Phòng bệnh tích cực :

  • Thay đổi nếp sống lạc hậu, bỏ những tập quán mê tín.
  • Cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ đời sống.
  • Rèn luyện thân thể : Thể dục, Thể thao, Y võ dưỡng sinh...
  • Phương pháp rèn luyện sức khỏe đã được danh y Tuệ Tĩnh tóm kết trong câu :

"Bế tinh, Dưỡng khí, Tồn thần,

Thanh tâm, Quả dục, Thủ chân, Luyện hình".

  • Chống dục vọng cá nhân, rèn luyện ý chí, cải tạo bản thân và xã hội, xây dựng tinh thần lạc quan

IV. TỔNG KẾT HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Qua 3 Học thuyết : Âm dương, Ngũ hành và Thiên Nhân Hợp Nhất, Y học cổ truyền dân tộc đi đến quan niệm toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng và trị bệnh. Người thầy thuốc phải thấy con người ở thể THỐNG NHẤT TOÀN VẸN giữa các chức phận, tinh thần và vật chất, cá nhân và hoàn cảnh bên ngoài, để tìm ra các mâu thuẫn xáo trộn trong quá trình bệnh lý và giải quyết các mâu thuẫn đó bằng phương pháp TÍCH CỰC VÀ ĐÚNG ĐẮN NHẤT.

Ngoài ra, Thiên 'Ngọc Bản' (LKhu 60) đề cập đến vai trò của con người trong vũ trụ cũng đã ghi : "Phù chân giả, thiên địa chi trấn dã, Kỳ bất khả tham hộ" (Này, con người là quý nhất trong trời đất, không thể không xứng đáng đứng giữa trời đất). Muốn xứng đáng đứng trong trời đất, phải biết hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ, với mọi người.

Hiện nay, theo Tổ chức y tế thế giới (OMS - WHO) thì sức khỏe được hiểu không chỉ là không bệnh tật mà còn bao hàm 1 cuộc sống thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội. Điều này cho thấy, người ta đã quan tâm đến con người 1 cách toàn diện (thể chất, tinh thần và môi trường xã hội). Điều này cha ông chúng ta đã đề ra từ ngàn xưa, chúng ta cố gắng duy trì, phát huy và hoàn thiện hóa dần mà thôi.

Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc

Nhìn vào đồ Thái cực, Phương Bắc, Mùa Đông, buổi tối khuya là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo, cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang đi vào cõi chết, trong khi đó, mọi sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống. Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí.

...continue reading "Thủy khí – Học thuyết ngũ hành"

Học thuyết Ngũ hành âm dương là học thuyết cơ bản của Y học cổ truyền – Trung y. Trong đó, nơi đồ Thái cực, Thổ nằm ở giữa (trung ương), là nơi kết tụ tinh hoa của thức ăn rồi đi phân phối cho toàn cơ thể.

...continue reading "Thổ khí – Học thuyết ngũ hành"

Phương Đông, mùa Xuân, buổi sáng là biểu hiện của thiếu dương khí (theo đồ hình thái cực). Tính chất của thiếu Dương là khởi sinh, khởi động. Thiếu dương khí ở người chính là Mộc khí.

...continue reading "Mộc khí – Học thuyết ngũ hành"

Trong học thuyết Ngũ hành chúng ta phải kể đến Kim khí. Kim khí là nuồn năng lực xuất phát từ thiếu âm. Theo đồ Thái  cực Kim khí đại diện cho phương Tây, mùa Thu và buổi chiều tối.

...continue reading "Kim khí – Học thuyết ngũ hành"